Phong tục cưới hỏi của dân tộc Khomer Nam Bộ

Nhanluu1294 Nhanluu1294 @Nhanluu1294

Phong tục cưới hỏi của dân tộc Khomer Nam Bộ

18/04/2015 11:08 PM
545

Với 54 dân tộc anh em đã và đang cộng cư trên cùng lãnh thổ Việt Nam. Nếu nói lãnh thổ Việt Nam là một khu vười hoa xanh tươi tốt bởi những sắc màu văn hóa dân tộc thì nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc là một bông hoa khoe sắc trong khu vườn đó. Trong đất nước Việt Nam nói chung, vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng thì dân tộc Khmer có một nền văn hóa khá đặc trưng. Ở đó, ta sẽ tìm thấy được sự yên vui, trẻ trung qua những điệu múa, bài hát, sự phước lành qua các lễ hội diễn ra quanh năm, suốt mùa ấy và luôn được tổ chức mọi nơi từ trong chùa đến các Phum, các Sróc. Trong các lễ hội đó, thì lễ cưới của người Khmer được tổ chức rất riêng biệt và có phần rất đặc trưng. Trong lễ này chúng ta sẽ bất chợt nhận ra sự hạnh phúc, sung sướng mỹ mãn qua những ý nghĩa của từng nghi thức với những sự tích gắn liền được thực hiện trong lễ cưới này. Chúng tôi xin phép được giới thiệu đôi nét về lễ này đến tất cả các bạn !!

Tục cưới của đồng bào Khơme Nam Bộ

1. PHONG TỤC CƯỚI HỎI

Nhắc đến “phong tục” thì không một ai có thể xác định rằng “phong tục này có từ bao giờ, từ dâu mà có, do ai sáng lập nên hay tại sao nó lại như thế này ?” tất cả những bí ẩn đó sẽ không một ai biết họ chỉ biết rằng từ khi họ sinh ra đã thấy ông cha của mình đã thực hiện như vậy rồi. Thế là họ tiếp nhận và thực hiện cho con cháu mình như họ đã từng được dạy từ trước. Cứ thế cư thế, phong tục được truyền cho đến ngày nay. Không là trường hợp ngoại lệ, Lễ cưới của dân tộc Khmer cũng vậy. Trong lễ này có rất nhiều nghi thức được thực hiện rất độc đáo và thú vị mà không thể giải thích được tại sao? và vì sao? Và lễ cưới của dân tộc Khmer có tên là “APEA-PIPEA”.

Vài ý nghĩa của từ “apea-pipea”.


Ngày xưa, lễ cưới của người khmer chỉ có “pipae” mà thôi và nó được hiểu là “vu quy”. Bởi vì, người Khmer ngày xưa theo chế độ mẫu hệ nên việc tổ chức lễ cưới chỉ diễn ra tại tư gia đàng gái và chú rể sẽ qua ở nhà của cô dâu tức là ở rể. Ngày nay, do có sự giao lưu văn hóa nên lễ cưới được tổ chức tại cả hai bên gia đình còn việc quyết định cô dâu sẽ theo chồng hay chú rể sẽ theo vợ là chuyện cả hai gia đình sẽ bàn bạc và quyết định. Việc cô dâu qua nhà chú rể làm nghi lễ gọi là “apae”. Tứ đó, Lễ cưới được gọi là “pithi apea-pipea”.

Giai đoạn trước lễ cưới.

Lễ cưới hỏi của người Khmer được tổ chức theo cổ truyền từ xưa đến nay. Trước khi diễn ra lễ nói, lễ hỏi, lễ cưới vấn đề quan trọng nhất là hai gia đình xem ngày, tháng, năm sinh của chú rể và cô dâu có hạp nhau hay không.

Nếu hạp, cha mẹ hai họ tìm đến ông Pelea xem ngày đến nói-hỏi-cưới. Riêng ngày hỏi cưới không cử hành vào tháng thiếu ví dụ như: tháng giêng, tháng ba, tháng năm, tháng bảy, tháng chín, tháng mười một và ba tháng nhập hạ của các vị sư trong chùa. Lễ cưới hỏi thường được tổ chức bên nhà đàng gái điều kiện hành lễ chìu theo nhiệm vụ quan trọng nhất là bên đàng trai nhờ ông mai bà mối là ông Maha cùng cha mẹ chú rể đem theo lễ vật như: hai nải chuối cơm, hai mâm cơm dẹp, một cặp nước ngọt, hai đĩa bánh tây yến, một mâm trầu cau, một mâm cơm, bánh trái đến nhà cô dâu đặt những lễ vật và hai mâm cơm gọn gàng xong mời cha mẹ dòng họ thân thuộc bên đàng gái ngồi có thứ tự một bên và bên chú rể một bên thắp đèn cầy và nhang. Trước tiên Maha mời những vông linh ông bà đã quá cố vào dùng những lễ vật của đàng trai và con gái của ông bà,…

Khi cha mẹ cô dâu thống nhất gả thì cha mẹ chú rể đưa mâm cơm rượu mời cha cô dâu dùng và đưa mâm trầu cho mẹ cô dâu dùng. Khi dùng xong đưa các lễ vật có cặp như đã kể trên cho cha mẹ cô dâu. Theo phong tục ngày xưa, người ta tổ chức có phần cầu kì hơn. Cha mẹ chàng trai chọn nhờ một người phụ nữ trong Sróc là người đã có gia đình, có cuộc sống hạnh phúc, có đức hạnh cao đẹp đến nhà để gặp cha mẹ cô gái hỏi ý. Người mai mối phải nói lời dễ nghe với cha mẹ cô dâu: “Đây thực sự làm Chhay-Phum (tạm dịch phum giàu đẹp) xinh đẹp, hoa cỏ xanh tươi nên có người muốn đến đây gửi thân, muốn thành than sống trên mảnh đất trù phú này”. Khi nghe những lời nói đó, Cha mẹ cô gái đáp lại: “Cô/chị có chuyện gi? Đây là chhay-phum gì? Ngồi xuống đi”. Sau khi ngồi xuống hỏi thăm sức khỏe qua lại, cha mẹ cô con gái hỏi bà mai có việc chi. Bà mai nói rằng: “Xin lỗi, tôi có người nhờ đến đây để thăm dò nhằm nối duyên cùng gia đình chị”. Cha mẹ cô gái hỏi về thân thế, gia tộc con trai. Xong, cha mẹ cô gái trả lời rằng để hỏi ý kiến người thân trước khi trả lời chính xác cho bà mai. Bà mai sẽ còn qua lại nhà gái nhiều lần cho đến khi hai bên đòng ý đến việc làm lễ nói.

1. 1.Lễ nói.

Sau khi hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ nói, đàn trai chuẩn bị:

Tìm Acha xem ngày lành tháng tốt để cho con trai, con gái họ được hạnh phúc sau này. Báo cho đàn gái biết ngày cụ thể để đàng gái chuẩn bị thông báo, mời họ hàng thân thuộc đến nói chuyện trong buổi lễ. Đàng gái mượn một người phụ nữ có duyên nói chuyện để nói chuyện trong buổi lễ. Và họ cũng thông báo và mời người thân đàng trai đến tham dự. Các lễ vật gồm : lễ vật thường là trầu cau, trà, bánh, rau, gạo, thịt,….

Đàng gái cũng chuẩn bị:

Mượn người cao tuổi có hiểu biết về phong tục làm Meba để đối đáp trong khi hành lễ, chỉ bảo những công việc phải làm và cho ý kiến; chuẩn bị thức ăn để đãi khách; cũng mời họ hàng đến dự.

Đến ngày định trước, đàng trai và đàng gái gặp nhau, ông Maha và bà mai đến nói với ông Meba về những đức hạnh tốt đẹp của con trai. Người đại diện đàng gái là Meba yêu cầu được tìm hiểu tính tình con trai và nói: “Để tôi tìm hiểu tính tình cậu ấy lâu hơn, có thật như lời ngài nói hay không”.

Ngày xưa, người ta thực hiện đám nói với ba giai đoạn: Lần thứ nhất: Chỉ có bà mai qua lại để giao tiếp với cha me con gái.

Lần thứ hai: Cho phép hai bên giao tiếp.

Lần thứ ba: Người con trai mới được phép đến ra mắt đàng gái.

Khi đó, bà mai nói: “Nếu ông Meba chấp nhận thì tôi cho con trai qua phụ giúp việc cho gia đình và dành thời gian để Meba nhận xét, kiểm nghiệm có phải giống như lời tôi nói hay không”. Thời gian ở rễ có thể kéo dài từ một đến ba năm nhưng cũng có thể bị trả về nếu họ cảm thấy không hài lòng về chú rể và việc hôn nhân này không được chấp nhận. Sau đó, Ông Meba bàn bạc và hỏi ý kiến cha me, họ hàng con gái. Nếu tất cả thống nhất, Meba cho phép con trai qua phụ giúp công việc nhà cô gái từ một đến
ba năm. Thử thách cuối cùng là cho chàng trai xây nhà ba gian để cho đôi vợ chồng sống trong tương lai. Nếu cha mẹ cô gái vừa ý tất cả, họ cho chàng trai thông báo cho cha mẹ ruột để tiến hành làm lễ hỏi.

1.2. Lễ hỏi.

Lễ nói xong, sau đó đến lễ hỏi. Trong lễ hỏi của người Khmer cũng có lễ vật như đám nói, nhưng có điểm quan trọng là cha mẹ hai bên phải mời người thân ruột thịt để nhìn nhận cô dâu chú rể. Và vấn đề nạp tài thì có hai phần. Một là phải có một cặp nhẫn gọi là nhẫn lót sữa ( Sa-nop thức-đó ) và số tiền để cô dâu may quần áo mới. Hai là một số tiền trao cho cha mẹ cô dâu gọi là tiền chợ dành mua rau thịt, cơm nước cho hai họ và vật dụng khác. Hành lễ xong ông Maha giới thiệu cô dâu chú rể cho hai họ biết mặt. Hai họ có bao lì xì lại cho cô dâu.




Lễ vatah cưới Bánh, trái cây, trầu cau...đều là số chẵn


Lễ này gồm có hai cahcs: si-sa-la thum (đám lớn) hay si-sa-la touch ( đám nhỏ) là tùy khả năng của gia đình đàng trai và sự thống nhất giữa hai gia đình. S-sa-la thum ngưới ta tổ chức khá long trọng, bằng nửa đám cưới. Si-sa-la touch chỉ tổ chức bằng một phần ba đám cưới.

Các công việc nhà trai phải chuẩn bị như sau:

Tìm Achar chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ và thông báo đến gia đình đàng gái; mượn bà mai và Maha để nói chuyện với đàng gái; chuẩn bị lễ vật cho đàng gái; mời người thân đến dự.

Nghi lễ được thực hiện như sau: Trước tiên, bà mai nói chuyện theo thứ tự. Đàng gái vừa ý thì cho qua. Xong, đàng gái cho bà mai xây nhà một hay hai căn lớn, có thể lợp bằng lá hoặc ngói. Nói đến đây, bà mai xin lui về để ông Maha tiếp tục tiếp chuyện. Ông Maha tự giới thiệu mình với ông Meba về nhiệm vụ của ông trong buổi lễ này và xin phep được nói chuyện tiếp với ông Meba. Sau khi bàn luận xong, Maha chỉ cho ông Meba thấy là mọi điều kiện của ông Meba đã được thực hiện một cách hoàn tất. Hai bên thỏa thuận xong, Maha hỏi Meba lễ vật tổ chức đám cưới. Hai bên thống nhất xong, viết ra giấy thành hai bản. Mỗi người giữ một bản. Maha báo cho nhà trai các mang lễ vật mà nhà gái yêu cầu.

Tiếp theo, Maha nhờ Acha tìm ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới và thông báo cho ông Meba. Bàn bạc xong, ông Meba và ông Maha cho nhà trai và nhà gái biết. (nếu hai nhà có thể tự thảo luận và thống nhất ngày cưới được thì không cần đến ông Maha và Meba, chỉ cần thống nhất ý kiến xong, mời hai ông để làm chứng thôi).

Tiếp theo, đàng trai tiếp tục chuẩn bị các công việc là:

- Mượn Achar pea-lea và bà mai.

- Sắm lễ vật và thực phẩm đãi khách.

Và mời khách.

Đàng gái cũng phải chuẩn bị:

- Mượn Meba, Achar knhe và bà knhe.

- Chuẩn bị thức ăn tiếp đãi khách, họ hàng.

- Tìm người trang điểm cô dâu.

- Dọp dẹp lại nhà cửa.

Trước hoặc sau si-sa-la, ông Meba hay nói: “nếu ông Maha có thể, ông cứ qua lại” cho đến xong lễ cưới. Ngày xưa, sau khi si-sa-la, con trai và con gái chỉ có quyền nói chuyện qua lại với nhau, con trai không được nắm tay con gái. Nếu bị bắt, đàng gái sẽ chấm dứt mối quan hệ.


H01_Dua_chu_re_den_nha_gai.jpg


Đưa chú rễ sang nhà gái



1.3. Lễ Cưới.

Lễ cưới của người Khmer mang đậm đà tính dân tộc, vẫn lưu giữ được truyền thống xưa. Họ luôn khuyến khích những hôn nhân trong họ hàng ( trừ anh chị em ruột ) đều có thể kết hôn với mục đích là đảm bảo được sự thủy chung, tình yêu son sắt của đôi vợ chồng và mặt khác là họ muốn giữ của cải không cho thất thoát ra ngoài. Theo quan niệm của người xưa thì gái lớn lấy chồng, trai lớn lấy vợ cho nên khi con cái của họ lớn thì họ khuyến khích cho kết hôn. Ngày xưa vừa 15-16 tuổi người ta có thể cưới nhưng ngày nay tuổi lấy vợ lấy chồng đã trễ hơn. Tuy bề ngoài tuổi tác là không quan trọng nhưng ngược lại người Khmer rất quan trọng chuyện tuổi tác, khi con của họ quen một người nào đó họ thường hỏi tuổi tác, con cái nhà ai? Khi biết được tuổi tác họ đi cho ông Acha xem nếu ông Acha tốt thì được, nói xấu thì họ dứt khoát không cho đám cưới, đôi trai gái đó muốn ở chung thì phải trốn đi nơi khác chung sống với nhau nhưng sẽ bị cười chê, phê bình của xã hội.

Lễ cưới của người Khmer được tổ chức vào mùa khô ráo, thường là trước "Chol chnam thmay" ( tết ), sau khi làm xong mùa vụ và tuyệt đối không tổ chức vào ba tháng "vossa" ( nhập hạ ) của các vị sư.

Các nghi lễ chính của lễ cưới được thực hiện bên nhà gái nhưng do đàng trai đứng ra sắp xếp tổ chức, lễ cưới thường được tổ chức trong vòng ba ngày. Tuy nhiên ngày nay có thể đơn giản hơn, thời gian tổ chức có thể đơn giản hơn và có thể được tổ chức đãi khách cả hai bên, cả đàng gái lẫn đàng trai.

1.3.1 Nguồn gốc của cưới hỏi.

Phong tục cưới hỏi của đồng bào dân tộc Khmer nói chung đều được lưu truyền từ rất lâu đời, trãi qua bao thế hệ. Thông thường khi nói đến cưới hỏi thì thương người ta theo ba phong tục có nguồn gốc từ những câu truyện kể khác nhau.

Phong tục cưới hỏi có nguồn gốc từ truyện "Preas Thông - Neang Neak", truyện "Preas Ream và Seda" và truyện vua "Preas Vessondor cưới hai cháu Kros-sna và Chialy”.

Phong tục cưới hỏi người Khmer đã xuất hiện rất lâu đời theo ông Mon Pun-na thì “xã hội tổ chức lễ cưới từ khi con người biết tôn trọng danh dự và làm theo Balamon giáo”.

Nói như vậy phong tục cưới hỏi của người Khmer ngày nay là một nét đẹp văn hóa là một truyền thống tốt đẹp của sự kết hợp hài hòa giữa hai tôn giáo là Bà-la-môn giáo và Phật giáo.

1.3.2 Nghi lễ.

Lễ cưới của người Khmer có phần quan trọng hơn vì được tổ chức kéo dài đến ba ngày.






Cô dâu và chú rể người Khmer


Ngày thứ nhất: Chú rể mượn bạn bè sang nhà cô dâu phụ cất rạp, dọn dẹp nhà cửa. Còn cha mẹ chú rể thì mượn hai thanh niên chưa có vợ đi cắt bông cau ( người Khmer gọi là bông vàng bông bạc ) trước khi cắt bông cau thì người ta chuẩn bị một cái mâm đựng bông cau và họ xin người khuất mặt khuất mài giữ gốc cau, sau đó họ mới lên cắt, cắt xong họ để trên “Pean” đem về đặt ở một nơi và một chiếc đèn dầu nhỏ thắp nhang khẩn cầu cho đôi vợ chồng mới cưới trăm năm hạnh phúc. Tuy nhiên hiện nay có những nơi thường tổ chức ngày của đám cưới thì bên đàng trai có nghi thức đi hái hoa cau trong đó có ông Acha và những người lớn trong thân tộc, sau đó đưa về họ nhà gái làm lễ, nhưng có những nơi còn mua hoa cau hoặc tự hái xong rồi mới đem qua đàng gái làm lễ sau.

Ngày thứ hai: Gia đình và thân tộc bên đàng trai làm lễ đưa chú rể đến nhà gái theo sự hướng dẫn của Pelea và hai ông Maha ( Mahatep, Maha montray).

Chuẩn bị các lễ vật đem qua bên đàng gái gồm có những lễ vật như: vịt luộc, đầu heo, rượu, trầu cau, bánh trái, quan trọng nhất là bông cau phải do người chị hoặc người cô của chú rể bưng. Ngày xưa khi đưa chú rể sang nhà cô dâu người ta thường hát một bài hát đại ý như sau:

“Con voi một ngà,
đến gà càng to,
nàng ơi đừng sợ,
đó là voi anh”.

Khi đến nhà cô dâu thì bên đàng trai phải dừng lại trước cổng, đặt lễ vật lên bàn mà bên đàng gái đã bày sẵn được trang trí đẹp đặt ngang, trên có hai có bình hoa vì theo truyền thống thì khi bên đến thì nhà gái lấy một nhánh cây, gai, rào cổng lại tượng trưng cho sự tinh khiết của cô dâu chưa hề giao tiếp với ai bên ngoài. Muốn vào nhà thì ông Maha phải múa mở rào “rom bot robong”. Múa đủ ba điệu múa thì bên nhà gái xách cồng ra đánh một hồi và ông mới vạch nhánh gai ra, chú rể ôm mâm bông, hai chú rể phụ bưng mâm trầu và mâm rượu đứng hai bên, đi vào khi đến của em gái hoặc em trai bưng nước rửa chân cho anh rể hoặc mời anh rể uống trà và mời chú rể lên ngồi trên giường mà nhà trai chuẩn bị sẵn. Lúc này có dàn nhạc đàn trai rước phục vụ, đàn những bản nhạc truyền thống theo yêu cầu của ông Pele.
Đến chiều thì làm lễ cắt tóc cho cô dâu chú rể.

Đưa chú rể đến thắp nhang cho ông bà tổ tiên, xin nhận chú rể là thành viên của gia đình, phum sóc.

Đến tối, họ mời sư xãi đến tụng kinh chúc phúc cho đôi vợ chồng. Cô dâu ngồi đối diện với vị sư còn chú rể thì ngồi bên tay trái ông Acha. Nếu nhà hướng tây thì ông Acha và chú rể ngồi quay mặt về hướng Tây, cô dâu quay hướng Nam, còn các vị sư quay hướng Bắc. Sau khi tụng kinh xong thì cô dâu chú rể ra đãi khách, bạn bè đến khuya có nơi đến 12 giờ đêm người ta còn làm lễ nhuộm răng cho cô dâu “thvơ thming neang neak”, tục này bắt nguồn từ truyền thuyết Pre Thông – Neang neak. Vì là rắn có nhiều nọc độc nên phải phết răng để trị nọc, về sau cả chú rể cũng phải phết răng để trị nọc độc do cô dâu truyền sang.

Ngày thứ ba: Nghi thức cúng Pea-ly:

Sáng thứ ba, ông Maha xin phép thay mặt đàng trai cúng Pealy, ông Acha tìm chỗ cúng thường là trước sân và ở hướng Nam nhà cô gái, nếu trường hợp là không có đất trống, người ta chọn hướng Đông Nam, ông Acha trãi chiếu, vải, gối và các vật cúng khác gồm có bai-say, sla-tho, đèn, cơm, nước, bánh, trái cây, hai con gà luộc và một cái phệ ( vỏ cây chuối được tuốc ra và sắp thành hình vuông có đáy giống như một cái gổi hình vuông ) ba tầng ra trước sân ngồi chờ rước lấy giờ tốt gọi là dốt “pea-ly”. Theo phong tục chọn một trong những giờ tốt sau đây, tùy theo thói quen của từng gia đình: giờ chim bay, giờ thấy được chỉ tay hoặc giờ mặt trời mọc có ánh sáng tốt đẹp. Khi chọn được giờ tốt thì người ta bắt đầu làm lễ lúc này người ta đánh nhạc truyền thống, Krung pea-ly đến thâu nhận vật cúng và chấp nhận chú rể trở thành thành viên trong gia đình cô dâu. Cúng xong, ông Maha lấy phần vật lễ vật đặt vào cái phệ. Người Khmer cho rằng thần Krung pea-ly xuống có mang theo lính. Dàn nhạc tiếp tục bản nhạc dành cho cúng phệ trong khi có hai người khiên đi theo hướng Acha đã chỉ định.

Ngồi lạy ông bà.

Lấy giờ lành xong, ông Maha cho phép chú rể lên vào nhà ngồi lại ông bà, vào đến nhà chú rể đứng trên một hòn đá đã chuẩn bị sẵn lúc này cô đâu bưng nước dừa và khăn đến rửa chân cho chú rể. Theo quan niệm của người Khmer, bất kể họ sinh vào tuổi nào con gái được xem là nước, con trai được xem là đá, đá với nước sống chung rất hòa thuận đầm ấm. Rửa chân cho chú rể xong, cô dâu đi vào buồng, còn chú rể thì lên giường ngồi lạy bông cau và ông bà, cha mẹ.