Hướng dẫn học làm hacker

Hoaibui2395 Hoaibui2395 @Hoaibui2395

Hướng dẫn học làm hacker

19/04/2015 01:36 PM
607
Cùng tham khảo những hướng dẫn học làm hacker nhé. Hướng dẫn làm hacker, cách trở thành hacker



Hướng dẫn làm hacker

Trước khi các hacker thực sự bắt tay vào việc, họ phải tiến hành 3 bước cơ bản là in dấu ấn (foot printing) , Quét (scanning) và điểm danh(enumeration). Bài viết này đề cập đến kỹ thuật in dấu ấn và những vấn đề liên quan.


**In dấu ấn là gì ??**

In dấu ấn là việc dùng các công cụ và kỹ thuật để lấy thông tin cơ bản đầu tiên về một tổ chức hoặc một chuyên khu web muốn tấn công ( trong bài viết này tạm gọi là victim). Việc in dấu ấn có hệ thống một tổ chức sẽ cho phép hacker thấy rõ tình hình an ninh ( độ bảo mật) của tổ chức đó.

**Tại sao cần in dấu ấn ??**

Foot Printing giúp có thể định danh tất cả các mẩu tin và nắm những thông tin cơ bản (đôi khi khá quan trọng) về victim

** Kỹ thuật in dấu ấn **

Có rất nhiều kỹ thuật in dấu ấn khác nhau, bài viết này sẽ mô tả các bước giúp bạn hoàn thành một đợt phân tích dấu ấn kỹ lưỡng.

*Bước 1:

định phạm vi hoạt động: Bước này nói cho đơn giản là bạn phải xác định rõ cái mà bạn muốn hack là gì ( một công ty , một server hay chỉ là một web cá nhân ... )

- Đối với người mới bắt đầu, bạn nên đọc kỹ và ghi lại những thông tin mà trang web cung cấp cho bạn ( những thông tin về nó , như số ĐT , mail của webmaster , địa chỉ ....). Có nhiều khi những thông tin này lại là "chiếc chìa khoá vàng" cho bạn Những mục đáng quan tâm bao gồm :
+ Các vị trí
+ Các công ty hoặc thực thể liên quan
+ Các kết nối hoặc tin tức có được
+ Các ngôn ngữ bảo mật nêu rõ các cơ chế bảo mật đã thiết đặt ( cấu hình fire wall chẳng hạn )
+ Các số điện thoại , tên liên lạc và Email .....

Ngoài ra, bạn cũng có thể xem lại mã nguồn HTML để tìm những sơ hở trong lập trình , bên cạnh đó , những chú thích nằm trong các thẻ HTML như < ! và ~ cũng là một " tài nguyên" đáng khai thác !! ( thí dụ như )
Sau khi nghiên cứu trang web , bạn tìm thêm những thông tin cung cấp các manh mối bổ sung về tình trạng của tổ chức và tình hình an ninh của nó ( trên báo chí , các bản tin trên NET chẳng hạn) . Những động cơ tìm kiếm là chìa khoá cho bạn . Sau đây là một vài động cơ tìm kiếm :

Google U.S. Securities and Exchange Commission (Home Page)
http://cyberarmy.com Http://deja.com
Domain Names, Web Hosting and Online Marketing Services | Network Solutions Dogpile Web Search
ASTALAVISTA - The Hacking and Security Community Travel, Probate Lawyers, Tourism - ipswich.com
http://arin.net/whois/ WebFerret - Fast and powerful Web search software for Windows.

Okie, hãy tiến hành bước đấu tiên trong kỹ thuật Hack !! B)

*Bước 2 : điểm danh mạng

Trong bước này , việc đầu tiên là định danh các domain và mạng có liên quan đến victim . Muốn làm điều này , hãy truy xuất dữ liệu của network solution ( Domain Names, Web Hosting and Online Marketing Services | Network Solutions ) và American Registry for Internet Number ( www.arin.net )
Một số kiểu truy vấn :

+Organizational : Tất cả các thông tin có liên quan đến một tổ chức cụ thể
+Domain:---------------------------------- domain -------
+Network:-----------------------------------mạng hoặc IP
+Point of contact:-------------------------1 cá nhân cụ thể ( admin )

*Bước 3 : Truy vấn DNS

Sau khi định danh các domain của tổ chức đích (victim), bạn có thể bắt đầu truy vấn DNS . Nếu DNS được cấu hình bấp bênh, ta có thể moi được thông tin tiết lộ về tổ chức . Một trong những cách cấu hình sai nghiêm trọng nhất mà một điều hành viên có thể mắc phải là cho phép người dùng internet không tin cậy thực hiện chuyển giao miền DNS ( zone transfer). Sự cố này có thể cho thấy tên hệ chủ, các IP ẩn .... nói chung là các thông tin muốn che dấu ! Việc cung cấp địa chỉ IP bên trong cho 1 người dùng không tin cậy trên internet cũng giống như cung cấp bản đồ ngôi nhà mình cho kẻ trộm vậy !!
Đến đây, có lẽ bạn có một câu hỏi " Zone transfer - how ??" . Xin thưa là đây là một vấn đề khác, có lẽ tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác của mình để tránh loãng bài viết . Kết thúc bước 3 tại đây !

*Bước 4: trinh sát mạng

Sau khi đã có bản đồ trong tay, thì đây là giai đoạn "xâm nhập thực tế" để xác định lộ trình truy cập tiềm năng mạng ( tạm hiểu như là việc do thám để xác định các con đường trước khi tiến hành đánh cướp á mà ! )
Để thực hiện công việc này , xin giới hiệu các bạn chương trình trace route ( ftp://ftp.ec.lbl/traceroute.tar.z ) có trong hầu hết phiên bản của Unix & WinNT . Trong WinNT , nó có tên là tracert.
Trace route là một công cụ chẩn đoán do Van Jacobson viết để cho phép xem tuyến đường mà một gói tin IP sẽ theo từ server này sang server khác
Nếu bạn không rành các lệnh trong Unix , có thể dùng VIsual Route ( VisualRoute IPv4 and IPv6 traceroute, connectivity test ) để thực hiện tiến trình trinh sát(tracerouting) này . Giao diện của visual route trông rất bắt mắt & dễ sử dụng. Nhưng không có tác dụng tốt với các mạng có quy mô lớn .
Ngoài ra , bạn còn có thể thực hiện một kỹ thuật phức tạp hơn gọi là "tiến trình quét giao thức firewall" (sẽ đề cập ở Basic hacking II - Scanning của fantomas311 )

Vậy là công đoạn đầu tiên của việc hack vào một hệ thống đã xong . Bây giờ, sau khi đã thực hiện hoàn tất các bước trên, bạn ( tôi chỉ nói những người đã làm đúng các bước trên) có thể tự hỏi : "vậy có tác dụng gì ??" Làm gì tiếp theo??" "những thông tin thu được có tác dụng gì?" " Có nhất thiết phải thực hiện bước này không ?? "
Nhiều câu hỏi quá ! Nhưng xin để các bạn tự trả lời vậy ! Tôi chỉ trả lời 1 câu thôi ! Bước tiếp theo của quá trình hack - theo lý thuyết - là Scanning . Quá trình Scanning sẽ được đề cập trong bài viết tiếp theo của fantomas311 : " Basic Hacking part II - Scanning"
Hy vọng bài viết này làm bạn hài lòng


Sơ Lược Trace Route


Trong bài viết trên tôi đã đề cập đến traceroute. Vậy Traceroute là gì ?? Mời các bạn xem bài viết sau:

Traceroute là gì?

Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet.

Một ví dụ về Traceroute!

Traceroute có thể làm được gì? Bạn hãy xem ví dụ sau sẽ rõ!

C:\windows>tracert 203.94.12.54

Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops

1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms

Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắt xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets:

Netzero(ISP đã gởi dữ liệu đi) -> Spectranet (một nhà công cấp mạng xương sống - Backbone Provider) -> New York ISP -> New York Backbone -> Asia -> South Asia -> India Backbone -> New Delhi Backbone -> một router khác trong New Delhi Backbone -> New Delhi ISP

Như vậy, host có địa chỉ ip 203.94.12.54 nằm ở New Delhi, India, South Asia! Bạn cũng có thể telnet đến 203.94.12.54 trên cổng 13(datetime) để xác định giờ GMT qua đó bạn có thể biết được vị trí của host này(yêu cầu là host 203.94.12.54 phải chạy daemon datetime và được định cấu hình đúng về thời gian)!

Traceroute hoạt động như thế nào?

Trước hết, bạn cần biết về ICMP, TTL và cách làm việc của các routers(bộ định tuyến)!

Những kiến thức cơ bản

ICMP - Internet Control Message Protocol. ICMP được dùng để thông báo các lỗi xảy ra trong quá trình truyền đi của các gói dữ liệu trên mạng. ICMP thuộc tầng vận huyển - Transpoort Layer! Tầng ứng dụng HTTP FTP Telnet Finger SSH DNS
POP3/IMAP SMTP Gopher BGP
Time/NTP Whois TACACS+ SSL DNS SNMP RIP
RADIUS Archie
Traceroute tftp Ping
Tầng vận chuyển
TCP

UDP

ICMP

OSPF

Tầng Internet
IP

ARP

Tầng vật lí Ethernet/802.3 Token Ring (802.5) SNAP/802.2 X.25 FDDI ISDN
Frame Relay SMDS ATM Wireless (WAP, CDPD, 802.11)
Fibre Channel DDS/DS0/T-carrier/E-carrier SONET/SDH DWDM
PPP HDLC SLIP/CSLIP xDSL Cable Modem (DOCSIS)

Tất cả các ICMP messages đều được chuyển đi cùng với các IP datagrams. Mỗi ICMP message được gói trong IP datagram sẽ có dạng như sau:

+---------------------+-------------------------+
| IP Header(20 bytes) | ICMP message (32 bytes) |
+---------------------+-------------------------+

Sau đây là cấu trúc của một IMCP message: (tham khảo RFC792 để biết thêm!)

0 7 8 15 16 31
+-----------------+-----------------+-----------------+
| Type (0 or 8) | Code (0) | 16-bit Checksum |
+-----------------+-----------------+-----------------+
| Indentifier | sequence number |
+-----------------+-----------------+-----------------+
| |
| Optional Data (nội dung tùy thuộc vào Type và Code) |
| |
+-----------------------------------------------------+

trường type có 15 giá trị khác nhau, tùy thuộc vào từng loại ICMP error message cụ thể. Ví dụ type=3 để chỉ định cho thông báo lỗi "Không đến được đích" - "Destination unreachable" error message!
trường code = sub-error dùng để xác định chính xác lỗi đã xảy ra. Ví dụ, type=3 và code=0 nghĩa là "Network Unreachable"(không đến được mạng); nếu type=3, code=1 nghĩa là "Host Unreachable"(không đến được host)...
TTL - Time to Live. TTL là một trường 8 bit trong IP header(bạn hãy xem lại cấu trúc của IP header!). TTL là thời gian gói dữ liệu tồn tại trên mạng trước khi nó bị bỏ qua. Người gởi dữ liệu đi sẽ xác định một giá trị TTL trước, thường là từ 32 -> 64. Giá trị này sẽ được giảm đi một khi một khi được chuyển qua một bộ định tuyến trên mạng. Khi giá trị này bằng 0, datagram này sẽ bị bỏ qua và giao thức ICMP sẽ báo lỗi về cho người gởi. Điều này sẽ tránh cho datagram này đi vào một vòng lặp vô tận qua các bộ định tuyến.

Mỗi bộ định tuyến khi nhận được IP datagram sẽ giảm giá trị TTL của datagram này đi một. Hầu hết các bộ định tuyến đều không giữ lại datagram này trong thời gian quá 1 giây trước khi chuyển datagram này đi. Nên giá trị TTL có thể coi bằng hop(counter) = số bộ định tuyến mà datagram này vừa vượt qua.

Khi bộ định tuyến nhận được một datagram có trường TTL bằng 0 hoặc 1, nó sẽ không chuyển datagram này đi tiếp. Thay vào đó, nó sẽ bỏ qua datagram này và gởi một ICMP message "Time Exceeded"(quá thời gian) trở lại cho người đã gởi datagram này! Vì ICMP message mà bộ định tuyến gởi trở lại cho người gởi có địa chỉ nguồn - source address là địa chỉ ip của bộ định tuyến này nên người gởi có thể biết được địa chỉ ip của router này!

Cách làm việc của traceroute!

Traceroute gởi một IP datagram có TTL=1 đến hệ thống đích. Router đầu tiên nhận được datagram này sẽ giảm giá trị TTL đi một -> TTL=0 và router này sẽ bỏ qua datagram này(không gởi nó đi tiếp!) và gởi một ICMP error message với địa chỉ ip nguồn là địa chỉ của nó đến máy bạn. Như vậy router có thể xác định địa chỉ ip của router thứ nhất! Sau đó, traceroute sẽ gởi một datagram mới đi với giá trị TTL=2(1+1=2) đến hệ thống đích. Router đầu tiên sẽ giảm giá trị của TTL đi một -> TTL=1(2-1=1) và chuyển datagram này sang router thứ 2. Router thứ 2 nhận được datagram có TTL=1 sẽ giảm TTL=0. Rounter 2 nhận thấy TTL=0 nên nó sẽ không chuyển datagram này đi tiếp. Router 2 sẽ gởi trở lại máy bạn một ICMP error message với địa chỉ ip nguồn là địa chỉ ip của nó(router 2). Như vậy trình traceroute trên máy bạn sẽ biết được router thứ 2 mà datagram đã đi qua. Traceroute sẽ tiếp tục gởi một datagram khác có TTL=3(2+1=3) đi và lặp lại quá trình trên cho đến khi datagram đến được hệ thống đích!

Nếu bây giờ IP datagram đã đến được đích, TTL=1. Host đích sẽ bỏ qua datagram này và nó cũng sẽ không gởi "Time Exceeded" ICMP error message. Như vậy thì bạn sẽ không thể nào biết được là mình đã đến đích chưa?! Traceroute dùng một cơ chế khác như sau:

Traceroute gởi UDP datagrams đến host đích trên các cổng UDP có số hiệu lớn(>30000). Sở dĩ nó chọn các cổng có giá trị lớn vì thường không có ứng dụng nào đang lắng nghe ở các cổng này. Khi host đích nhận được UDP datagram này, nó sẽ gởi trả lại một ICMP error message "Port Unreachable"(không đến được cổng) cho traceroute. Bây giờ thì traceroute có thể phân biệt được sự khác nhau giữa ICMP error message "Time Exceeded" với "Port Unreachable" để biết được đã đến được đích hay chưa?!

Ghi chú: ICMP error message "Time Exceeded" có type=1 và code=0; ICMP eror message "Port Unreachable" có type=3 và code=3

Tổng kết: traceroute gởi UDP datagrams đến host đích với giá trị TTL=1 và được tăng sau mỗi lần để xác định các routers mà datagrams đã đi qua. Mỗi router sẽ gởi trở về một ICMP message "Time Exceeded". Riêng hệ thống đích sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP message "Port Unreachable". Traceroute dựa vào sự khác biệt này để xác định xem đã đến được đích chưa?!

Ví dụ cuối cùng!

host2 # traceroute xyz.com

traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms

Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).

Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình traceroute một ICMP message error "Time Exceeded". Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram đến hệ thống đích.

Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ nhất đã giảm một trước đó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message "Port Unreachable". Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.

Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao "*"(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích


Cách trở thành một hacker

1 . ) Ta cần những gì để bắt đầu ?

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có :
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….)
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` )
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila )
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..)
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …)
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..)

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ?

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte -> !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn.
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn "do not show ip" người ta vẫn lấy được nó
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ "systat –n ", và biết được ai đang kết nối đên họ
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn
( Tài liệu của HVA )

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ?

_ Trong Window : vào Start Run đánh lệnh “winipcfg” .
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns <your nick>”
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP .

4 . ) IP Spoofing là gì ?

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
( Tài liệu của HVA )

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ?

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó .
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính .
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó .
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) ;) .

6 . ) PGP là gì ?

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác .

7 . ) Proxy là gì ?

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client .
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter.

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA )

8 . ) Unix là gì ?

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .

9 . ) Telnet là gì ?

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng :
+ Port 21: FTP
+ Port 23: Telnet
+ Port 25: SMTP (Mail)
+ Port 37: Time
+ Port 43: Whois
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 .

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ?

_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau :

Account-------------------------Default Password


Root-----------------------------------------------Root
Sys------------------------------------------------Sys / System / Bin
Bin-------------------------------------------------Sys / Bin
Mountfsy------------------------------------------Mountfsys
Nuuc-----------------------------------------------Anon
Anon-----------------------------------------------Anon
User------------------------------------------------User
Games---------------------------------------------Games
Install----------------------------------------------Install
Demo-----------------------------------------------Demo
Guest----------------------------------------------Guest


11 . ) shell account là cái gì ?

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được .
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó .

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể crack Unix account passwords ?

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo .
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như :

/etc/passwd

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này :

userid:password:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell

trong đó :
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số .
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI .
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên .
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn )
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng crack một mật khẩu .
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy )
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login .
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình "CrackerJack" hoặc "John the Ripper" để crack .
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể crack được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào .

13 . ) shadowed password là cái gì ?

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed .
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !
or /tcb/auth/files/<first letter #of username>/<username>
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ *
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/<first letter *of username>/<username>
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
<optional NIS+ private secure
maps/tables/whatever>
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb =20


Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên .
Và cuốI cùng là những account passwd mà tôi từng crack được , có thể bây giờ nó đã hết hiệu lực rồI :

CODE
arif:x:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh
arigo:x:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh
aristo:x:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh
armando:x:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh
arn:x:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh
arne:x:1583:1000:Pham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh
aroon:x:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh
arozine:x:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash
arranw:x:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh


Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ x ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem .



Còn rất nhiều định nghĩa cũng như thủ thuật hack và crack khác tôi muốn cùng chia sẻ vớI các bạn , đặc biệt là các bạn Newbie . Tôi sẽ lần lượt post lên trong thời gian tới , mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn để những phần sau được viết hay hơn .
Hãy nhớ , hack cũng là một nghệ thuật và rất cần sự ham thích học hỏi cũng như sự kiên trì của các bạn . Sẽ có ngày các bạn cũng sẽ giỏI thôi . Chúc các bạn vui vẻ .



Cách khóa 1 thư mục trong win xp không khó
Hướng dẫn khóa file trên máy tính
Hướng dẫn tìm lại nick Facebook khi bị hack
Cách kiểm soát wifi hiệu quả nhất
Cách khắc phục lỗi của Google Chrome cực nhanh

(St)

Hỏi đáp, bình luận, trả bài:
có thề cho minh tham gia vào nhóm để học không
hơn 1 tháng trước - Thích - Trả lời
*địa chỉ email của bạn được bảo mật

Hot nhất
Top xink
Bộ sưu tập
Chợ xink
Thanh lý