Cuộc đời nghệ sĩ nhân dân Trà Giang

Nhanluu1294 Nhanluu1294 @Nhanluu1294

Cuộc đời nghệ sĩ nhân dân Trà Giang

18/04/2015 04:10 PM
946

Sinh năm 1941 tại Quảng Ngãi, hồi nhỏ, Trà Giang mê nghệ thuật múa, 12 tuổi tập kết ra Bắc, theo lời khuyên của cha (NSƯT Nguyễn Văn Khánh). “Con rất ăn hình, con nên theo điện ảnh” - đó là câu nói của người cha khiêm tốn về con. Ngoài đời, Trà Giang còn đẹp hơn trong mọi khuôn hình của ống kính.

Nổi tiếng trong “thế giới điện ảnh” từ những năm 59-60 của thế kỷ trước, với các vai chính gây ấn tượng sâu sắc trong các phim Chung một dòng sông (bộ phim truyện đầu tiên của nước ta - Giải Bông sen vàng (BSV) tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2), Mối tình đầu,Chị Tư Hậu (Giải BSV Việt Nam và Huy chương Bạc LHP Quốc tế tại Mátxcơva năm 1963 cho phim), Ngày lễ Thánh, Huyền thoại mẹ, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (Giải TNCCM LHPQT tại Liên Xô 1973 cho phim và giải nữ diễn viên xuất sắc nhất cho vai Dịu - Trà Giang đóng), Trà Giang đã nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân lúc chưa tới tuổi 50 nhờ những cống hiến to lớn của mình cho nền điện ảnh nước nhà.

Một ngày với Trà Giang (ở tuổi 65)

5 giờ sáng chị đã thức dậy, làm một vài động tác nhẹ nhàng để cơ thể bắt đầu vận động một ngày mới, tự mát-sa mặt bằng đôi tay ấm nóng (xát mạnh vào nhau tạo nhiệt) rồi bước ra khỏi nhà, hít thở khí trời ngoài công viên buổi sớm với bài tập thể dục hằng ngày.

Đến 6 giờ 30 ngồi vào máy tính, lên mạng để “gặp” con gái Bích Trà. Hai mẹ con “chát” với nhau, nhìn nhau qua webcam, nói đủ thứ chuyện, nâng niu âu yếm nhau như ngày Trà còn bé tí. Chị bảo cứ mỗi sáng nghe tiếng con nói, nhìn gương mặt thân yêu của con là cảm giác được uống liều thuốc tiên vào dạ.

Mỗi ngày lại mong một ngày mới, đôi khi chỉ là câu chuyện buổi sáng như vậy. Sức khoẻ sau khi mổ tụy, tưởng sẽ gầy gò ốm yếu như hôm ra viện (cách đây 3 năm) vậy mà bây giờ dường như còn khoẻ hơn, sức làm việc lâu hơn.

Rời bàn vi tính, chị bắt đầu trở về phòng vẽ. Hoặc vẽ một mình, hoặc cùng với các bà bạn. Trưa ăn cơm với ba mẹ. Chị bảo chị là người có phúc nên ở tuổi này chị vẫn được ba mẹ cưng nựng, yêu chiều.

Buổi chiều, mấy cha con, chị em chơi bài tiến lên. Nhiều khi người này cố ý “ăn gian” để thua, để mua cho cuộc vui thêm vui. Giải trí như thế làm cho đầu óc tươi mới trở lại, tiếng cười làm cho sức sống tràn lên. Và tối đến, đôi khi đọc vài trang sách, xem bản nháp của phim, suy nghĩ nhân tình thế thái…

Hội hoạ

Ban đầu, chỉ vì không muốn xuất hiện trở lại trên phim trường, trong các cảnh quay, kịch bản nên Trà Giang nung nấu một thay đổi nào đó. Cách đây 7 năm, tình cờ trong lần đến chơi nhà bạn, chị Lê Thị Thoa, phu nhân tướng Trần Văn Trà, thấy chị Thoa nhiều tuổi mà vẫn học vẽ, say sưa vẽ về một thế giới nội tâm nào đó, rất hấp dẫn.Trà Giang học theo.

Học được 3 tháng (ở Hội Mỹ thuật TPHCM) thì nỗi buồn ập đến, chồng chị, Tiến sĩ - Giáo sư - Nghệ sĩ violon - Nghệ sĩ ưu tú Bích Ngọc mang bệnh qua đời (1999). Con gái Bích Trà tu nghiệp luôn sống ở xa, chị không biết làm gì hơn là gửi tâm tình lên giá vẽ.

Ban đầu nét vẽ đơn sơ, chỉ có màu là đẹp. Nhiều hoạ sĩ tên tuổi xem tranh Trà Giang, bảo chị được trời cho cái thẩm mỹ màu. Nhưng, lại vẫn là Trà Giang của điện ảnh ngày xưa, không chịu dừng ở mức cầm cọ chỉ để giải buồn, khuây khoả mà cái này gợi mở cái kia, cái trước đòi hỏi cái sau, màu gọi màu, bố cục gọi… một tầm khái quát.

Thế là, miệt mài mà vẫn hồn nhiên, suy tư sâu sắc mà vẫn mênh mang như thơ… 7 triển lãm chung với chị em, lần nào tranh cũng có người muốn sở hữu. Có thể ban đầu chỉ vì yêu tên tuổi một NSND nổi tiếng, nhưng ngày một nhiều hơn thì hẳn phải là sức quyến rũ của chính những gam màu ấy. Lần vừa rồi (27/7 – 3/8/2006 tại Lotus Đồng Khởi) triển lãm riêng của Trà Giang đã ra mắt công chúng với 30 bức khổ vừa.

Vẽ, để vơi đi nỗi buồn nhưng vẽ cũng là tìm thấy những tiềm ẩn trong bản thân, tìm thấy tình yêu với cuộc sống. Và vẽ con gái để con thấy mẹ đã “đọc” được tinh thần của con qua gương mặt người mà mẹ dấu yêu hằng ngày.

Bích Trà và mẹ

Bích Trà là người con gái duy nhất của cặp vợ chồng nổi tiếng Bích Ngọc - Trà Giang. Khi mang thai con, Trà Giang còn phải đi đóng phim, quay thêm một cảnh bù vào cảnh quay trước chưa vừa ý (phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm). Nhiều cảnh quay cực kỳ nguy hiểm, vất vả, cực nhọc cho người có bầu 4 tháng lần đầu.

Cô con gái lớn lên trong tiếng vilon của cha, tiếng nựng ru giọng Quảng Ngãi dịu dàng của mẹ. Học Nhạc viện Hà Nội rồi sang học ở Nga khi mới 14 tuổi. Đến bây giờ, danh mục biểu diễn của Bích Trà đã trải rộng từ các tác giả cổ điển, phổ biến như: Bach, Schubert, Mozart, Beethoven, Prokfiev, Ravel, Shostakovic đến các tác phẩm đương đại của thế giới hôm nay.

Bích Trà mỗi ngày mỗi học, biển học theo cô là vô bờ và một nghệ sĩ không thể không cập nhật. Đã tốt nghiệp cao học, Bích Trà vẫn vừa học vừa đi biểu diễn với nhiều chương trình âm nhạc quốc tế. Nhưng mỗi năm, Bích Trà ít nhất một lần về Việt Nam với mẹ.

Với mẹ, nỗi nhớ tràn đầy tâm hồn cô. Nhớ mẹ, nhớ ông bà, cô dì chú bác và nhớ Hà Nội, Sài Gòn. Mỗi lần về cũng là mỗi lần được Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện TPHCM hay các dàn nhạc trong nước và quốc tế mời diễn.

Diễn, sống với mẹ, với quê hương của mình là thời khoá biểu được lên sẵn trong cuộc đời nghệ sĩ piano nổi tiếng Bích Trà. Cả hai mẹ con đều biết, giá trị cuộc sống không chỉ là vinh quang nghệ thuật mà cả nỗi thương yêu, sự gắn bó con người với nhau.

Tết này, Bích Trà và mẹ Trà Giang không ăn Tết cùng nhau ở Sài Gòn, mà sẽ cùng ăn Tết trên... camera. Năm 2006, Bích Trà đã 2 lần về với mẹ, về với những cuộc trình diễn đang được chờ đợi. Lần thứ 2 (19/7) trùng với dịp triển lãm Hè về của mẹ.

Trà Giang bảo “Trà là cảm hứng nghệ thuật của tôi”, còn Bích Trà thì nói “Mẹ là tất cả”.

(Theo: http://vietbao.vn/Giai-tri/Tra-Giang-Nguoi-dan-ba-co-ve-dep-xuyen-the-ky/65082341/235/)


Người phụ nữ với đôi mắt biết nói của điện ảnh Việt

Mỗi năm, khi có các sự kiện lịch sử, những thước phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” hay “Chị Tư Hậu” vẫn được phát lại trên truyền hình. Dù lướt qua thì hình ảnh người phụ nữ có đôi mắt biết nói trong những bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam thời kỳ đó vẫn luôn gây ấn tượng cho khán giả, dù là trong lần chạm mắt đầu tiên. Sẽ không quá nếu nói rằng, cái tên Trà Giang đã gắn liền với những bộ phim nổi tiếng của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam.

Sinh năm 1942 tại Quảng Ngãi, nhưng năm 1954, khi mới 12 tuổi, NSND Trà Giang đã theo cha mẹ tập kết ra Bắc. Chính vì thế, dù là người miền Nam, nhưng những năm tháng ở miền Bắc đặc biệt có nhiều dấu ấn quan trọng trong cuộc đời cũng như con đường nghệ thuật của chị.

Cha của NSND Trà Giang là NSƯT Nguyễn Văn Khánh – đạo diễn sân khấu. Vô cùng lưu luyến với mảnh đ
t Quảng Ngãi – nơi đã sinh ra và lớn lên, nên khi anh em Trà Giang ra đời, NSƯT Nguyễn Văn Khánh đã lần lượt đặt tên cho con trai và con gái là Ấn Sơn và Trà Giang (núi Thiên Ấn và sông Trà vốn là những địa danh nổi tiếng của vùng đất này”.

Trước lúc tập kết ra Bắc, gia đình NSND Trà Giang sống ở Bình Lâm (thuộc Bình Thuận). Ngày đó cuộc sống của gia đình Trà Giang rất khó khăn, vất vả. Cha chị thường đi công tác liên miên, thỉnh thoảng mới có thời gian ghé qua nhà. Lương của một trưởng đoàn nghệ thuật của ông không đỡ đần được gì nhiều cho đời sống gia đình. Để có kế sinh nhai, mẹ và bà ngoại Trà Giang phải làm bánh ít để bán.

 NSND Trà Giang
NSND Trà Giang

 Lên 5 tuổi, NSND Trà Giang đã biết thế nào là mùi vị chiến tranh. Những năm giặc Pháp càn ráo riết, cả gia đình Trà Giang thường xuyên phải di tản để tránh giặc càn. Khi đó cô bé Trà Giang cũng phải theo gia đình di chuyển hết từ nơi này đến nơi khác.

 Thời gian đoàn văn công của cha Trà Giang giải tán, cán bộ đoàn không còn đi diễn nghệ thuật nữa mà phải về tăng gia sản xuất, bữa đói bữa no, có bữa phải ăn cháo với củ chuối thay cơm, gia đình Trà Giang vì thế mà cũng đói no theo những vất vả, khó khăn của cả đoàn.

Trước lúc tập kết, gia đình NSND Trà Giang ở Bình Lâm (thuộc Bình Thuận). Thời đó, nhà nghèo lắm. Ba chị là Trưởng đoàn văn công tuyên truyền, đi công tác liên miên, má và ngoại chị làm bánh ít bán.

Giặc Pháp càn ráo riết, cả nhà phải dời về Phan Thiết. Ba chị vào Sài Gòn ra Khu 8 gặp các bác Khương Mễ, Mai Lộc học về điện ảnh để phổ biến ở miền Trung. Cuộc kháng chiến ngày một khó khăn nên cả đoàn văn công của ba chị cũng phải giải tán, về với việc sản xuất, bữa đói bữa no, có khi phải ăn cháo củ chuối thay cơm.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ba chị tập hợp lại đoàn văn công. Những ngày đó, khi đoàn đi diễn kịch, Trà Giang cũng được đi diễn chung. Thế rồi, tin tập kết được truyền tới mọi người.

 Sau năm 1954, theo gia đình các cán bộ miền Nam, Trà Giang cũng được đưa ra miền Bắc và theo học ở Trường Học sinh miền Nam (trường dành cho con em cán bộ miền Nam ra tập kết ở miền Bắc). Những ngày đầu mới ra miền Bắc, chị thường nhớ miền Nam đến mức òa khóc.  Nhưng sau này, khi thích nghi với nếp sống mới, thích nghi với những con người mới ở miền Bắc, chị đã dần coi miền Bắc là một phần máu thịt, là quê hương thứ hai của mình.

Ra miền Bắc theo học ở Trường Học sinh miền Nam, thỉnh thoảng lắm mỗi khi đến dịp nghỉ hè, nghỉ lễ tết, Trà Giang mới có dịp về thăm cha mẹ ở khu tập thể văn công ở Mai Dịch. Mỗi lần về, cha chị thường ngắm nhìn cô con gái nhỏ của mình và sớm phát hiện ra tố chất của một nghệ sĩ trong con người Trà Giang.

Nhưng khi đó Trà Giang còn quá bé. Muốn con gái mình yên ổn với việc học tập, nên dù có những đồng nghiệp cùng là đạo diễn sân khấu đã nhận ra tố chất của Trà Giang, nhưng cha chị - NSƯT Nguyễn Văn Khánh vẫn chưa để con gái bước chân vào con đường nghệ thuật.

Năm 1959, Trà Giang thi đỗ vào trường múa. Nhưng con đường đến với nghề múa của Trà Giang đã sớm dừng lại khi cha chị nói với con gái: “Con có một gương mặt đẹp, sao không thử thi làm diễn viên?”. Đúng dịp đó Bộ Văn hóa tổ chức thi tuyển diễn viên cho khóa đầu tiên của Trường Điện ảnh. Việc tuyển sinh do các chuyên gia nước ngoài trực tiếp phụ trách.

Chính NSƯT Nguyễn Văn Khánh đã tự chụp ảnh con gái mình, gửi ảnh và giúp Trà Giang đăng kí dự thi. Trà Giang vẫn nói ngày đó chị chưa bao giờ nghĩ mình đẹp, trước đó cũng chưa từng thấy ai khen mình đẹp, nhưng khả năng nhiếp ảnh của cha chị đã khiến ông chụp con gái mình ở những góc ảnh đẹp nhất.

Là người rất ăn ảnh và có đôi mắt biết nói, Trà Giang nhanh chóng lọt qua vòng thi tuyển sinh, trở thành lớp diễn viên đầu tiên của Trường Điện ảnh, cùng lớp với thế hệ Minh Đức, Thụy Vân, Kim Chi….

Thế hệ lớp diễn viên đầu tiên của Điện ảnh Việt Nam của Trà Giang tuy phải chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như điều kiện học tập, nhưng đổi lại Trà Giang và những người bạn cùng lớp luôn được các chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam hướng dẫn, dạy dỗ một cách tận tình, bài bản về kỹ năng diễn xuất.  Vai diễn đầu tiên của Trà Giang là một vai phụ trong phim “Vợ chồng A Phủ”.

Trong bộ phim đó, Trần Phương đóng vai A Phủ, Đức Hoàn đóng vai Mị…, còn Trà Giang được nhận 1 vai quần chúng nhỏ, chỉ kịp lướt qua trên màn ảnh. Nhưng sau vai diễn đó, chị đã bắt đầu cảm nhận được sự say mê với nghề diễn viên.

Ngày đó, trong trường điện ảnh có nhiều người xinh đẹp, nhưng Trà Giang luôn là người lọt vào “mắt xanh” của các đạo diễn. Chính vì thế, lần lượt các vai diễn quan trọng bắt đầu đến với sự nghiệp điện ảnh của Trà Giang.




Tên tuổi của Trà Giang dần được khẳng định và trở nên không thể thay thế. Chị trở thành sự lựa chọn số 1 của nhiều đạo diễn. Những bộ phim như “chị Tư Hậu”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” sau này đã dần trở thành những bộ phim để đời của nền điện ảnh Việt Nam nói chung và của cá nhân Trà Giang nói riêng.

Trong đời diễn viên của mình, Trà Giang có rất nhiều kỉ niệm không bao giờ quên.

May mắn được sống trong một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của dân tộc, bên cạnh những khó khăn, vất vả, thiệt thòi do chiến tranh, nhưng đổi lại Trà Giang và những diễn viên cùng thế hệ với chị có được vốn sống phong phú và những cảm xúc rất chân thật, sống động cho vai diễn của mình. Đó chính là một phần lí do khiến những vai diễn của chị và nhiều đồng nghiệp đều có được sự thành công và gây tiếng vang lớn.

Còn nhớ khi đóng bộ phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” cũng là lúc chị đang mang thai cô con gái Bích Trà. Nhưng bất kể bụng mang dạ chửa, có những cảnh quay khó, buộc phải quay vào ban đêm, quay liên tục trong nhiều đêm và phải lội xuống nước lạnh, Trà Giang vẫn sống chết thực hiện đến cùng để có những thước phim đẹp nhất, sống động nhất cho điện ảnh Việt Nam.

Với vai diễn chị Tư Hậu trong bộ phim cùng tên, Trà Giang không chỉ có một bộ phim để đời mà còn dành được trọn vẹn tình yêu mến của nhiều khán giả. Thời gian chị là đại biểu Quốc hội, có lần có một đại biểu Quốc hội cùng khóa đến tìm và tìm cách nói chuyện bằng được với chị.

Đến lúc nói chuyện, chị mới biết anh là chồng của chị Tư Hậu ở ngoài đời và anh đến gặp chị - người đóng vai vợ mình trên phim chỉ để nói đôi lời cảm ơn về một vai diễn quá hay, quá xuất sắc, khiến cả gia đình anh đều nức lòng.

Lần đó chị sung sướng đến chảy nước mắt, vì không ngờ cuộc đời mình lại có những cuộc gặp gỡ tình cờ, thú vị nhưng vô cùng đặc biệt đến thế. Lúc đó chị biết ơn và trân trọng vô cùng nghề diễn viên của mình. Vì nhờ đó chị mới có một cuộc gặp đặc biệt và đầy cảm động như thế.

Mối tình đầu tiên và duy nhất

Là một người phụ nữ đẹp, nhưng cả cuộc đời mình, NSND Trà Giang chỉ có có duy nhất một mối tình. Người đàn ông may mắn đó là cố Giáo sư – Tiến sĩ âm nhạc Nguyễn Bích Ngọc.

Trà Giang nổi tiếng từ rất sớm nên được nhiều người biết tới. Ngày trẻ có không ít người đàn ông ngưỡng mộ nhan sắc của chị. Chị không đẹp rực rỡ, nhưng vẻ đẹp của chị là vẻ đẹp mà càng nhìn người ta càng cảm thấy đi vào lòng người. Thời ấy trong đoàn làm phim, rất nhiều nghệ sĩ, quay phim, đạo diễn ngỏ ý với Trà Giang. Nhưng cuối cùng chị lại chọn Bích Ngọc.

Với NSND Trà Giang, điều khiến chị yêu và cảm phục nhất ở chồng mình chính là ý chí bền bỉ và sự đồng điệu về tâm hồn giữa hai con người. Ngày trẻ, Bích Ngọc làm việc trong đoàn văn công của NSƯT Nguyễn Văn Khánh – cha của Trà Giang. Tuy là một diễn viên múa, nhưng Bích Ngọc lại say mê âm nhạc. Để học nhạc, thường người ta phải học từ năm 7 – 8 tuổi.

Nhưng Bích Ngọc đến tận năm 14 – 15 tuổi mới học, mà toàn tự học một mình. Nhưng chàng thanh niên Bích Ngọc đã học một cách bền bỉ, say mê, mỗi khi có thời gian rảnh là lại cầm đàn ra kéo. Nhờ sự kiên trì đó, mà sau này Bích Ngọc có được sự thành công với con đường âm nhạc mà mình đã chọn, trở thành một nghệ sĩ violon xuất sắc và là người đào tạo ra nhiều nghệ sĩ violon có tên tuổi ở Việt Nam.

Thời gian học tại Học viện âm nhạc Tchaiscopky, khi bộ phim “Chị Tư Hậu” do Trà Giang đóng vai chính được mang sang Liên Xô (cũ) chiếu tại liên hoan phim, Bích Ngọc đã vô cùng ấn tượng với cô diễn viên có đôi mắt biết nói trong phim. Anh nhanh chóng nhận ra đó chính là cô con gái nhỏ của NSƯT Nguyễn Văn Khánh – “sếp” cũ của anh khi anh còn công tác tại Đoàn Văn công Liên khu 5. Ngay khi xem bộ phim đó, Bích Ngọc dường như đã thầm thương trộm nhớ Trà Giang.

Sau này khi về Việt Nam, Bích Ngọc đã nhiều lần tìm cách gặp Trà Giang nhưng không tìm được, thế nhưng duyên số sắp đặt thế nào mà có một lần Bích Ngọc và Trà Giang lại tình cờ chạm mặt nhau khi cùng đến thăm bạn tại đường Trần Phú.

Sau lần gặp bất ngờ đó, Bích Ngọc và Trà Giang thường xuyên liên lạc với nhau. Năm 1964, khi Bích Ngọc tham gia cuộc biểu tình chống Mỹ tại Matxcova bị thương (nhân sự kiện Vịnh Bắc Bộ 5/8/1964), Trà Giang đã viết thư sang động viên Bích Ngọc với những lời lẽ quan tâm và bày tỏ sự lo lắng.

Sau lá thư đó, họ dần nhận ra tình cảm dành cho nhau. Năm 1966, khi Bích Ngọc trở về Việt Nam sau khi tốt nghiệp Học viện âm nhạc Tchaixcopky, tình yêu giữa Bích Ngọc và Trà Giang càng được thắt chặt. Năm 1967, trước khi Bích Ngọc quay trở lại Liên Xô học nghiên cứu sinh, Trà Giang và Bích ngọc đã quyết định làm đám cưới.



1


Đám cưới của Trà Giang – Bích Ngọc diễn ra vào năm 1967 là một đám cưới giản dị đến bất ngờ. Ngày đó ai cũng nghĩ một nữ diễn viên nổi tiếng như Trà Giang thì sẽ phải làm một đám cưới trang trọng, linh đình.

Nhưng chị lại chọn cách tổ chức một đám cưới ấm cúng, giản dị. Bởi khi đó thấy hoàn cảnh đất nước chiến tranh, cha thì đi chiến trường, mẹ thì vất vả nuôi hai em nhỏ, nên Trà Giang không muốn đám cưới của mình phô trương, rình rang quá mức cần thiết.

Ngày đi lấy chồng, chị nhờ mẹ làm cho bữa cơm mời khách, với đại diện gia đình hai bên và vài bạn bè thân thiết của Trà Giang. Trong lễ cưới, cô dâu mặc quần lụa đen, áo sơ mi hồng giản dị. Còn nhớ hôm đó, đúng bữa cơm thân mật mừng đám cưới, giặc Mỹ ném bom bất ngờ, nên tất cả mọi người tham dự đám cưới, từ cô dâu, chú rể đến gia đình, bạn bè hai bên đều phải chui xuống hầm trú ẩn, đợi máy bay Mỹ hết ném bom mới dám lên.

Khoảng lặng bình yên sau bão tố

Sau khi kết hôn, Trà Giang và Bích Ngọc được phân cho một căn phòng nhỏ chừng 9m2, nguyên là phòng dựng phim của Hãng Phim truyện, sau khi bộ phận dựng phim chuyển về số 4 Thụy Khuê.

Cả căn phòng nhỏ 9m2 đó chỉ có một cái bàn, một cái chạn bát, một cái giường và một cái tủ quần áo. Căn phòng chật chội đến nỗi để có chỗ để chạn bát, Bích Ngọc và Trà Giang phải cơi nới thêm ra một góc nhỏ ở đầu nhà. Còn mỗi lần muốn lấy quần áo treo trong tủ thì phải trèo hẳn lên giường để lấy vì không có chỗ đứng. Căn phòng không có bếp. Mọi việc nấu nướng đều phải chung với các gia đình khác trong căn bếp tập thể của cả khu.

Ngày đó đời sống nghệ sĩ vô cùng khó khăn. Ngay cả Trà Giang – một nữ diễn viên nổi tiếng cũng không phải ngoại lệ. Sau khi cô con gái Bích Trà – con gái đầu lòng và cũng là duy nhất của vợ chồng Trà Giang – Bích Ngọc chào đời, cuộc sống của gia đình Trà Giang càng thêm vất vả.

Muốn mua cho con một cây đàn dương cầm, nhưng phải dành dụm rất nhiều năm, vợ chồng Trà Giang – Bích Ngọc mới có đủ số tiền để thực hiện ước mơ đó. Thế nhưng tất cả những khó khăn đó không làm cho tình yêu của vợ chồng Trà Giang – Bích Ngọc thay đổi. Đến cuối đời, họ vẫn dành cho nhau những tình cảm yêu thương, chân thành và say đắm.

Sống với chồng mấy chục năm trời, điều mà NSND Trà Giang trân trọng và yêu thương nhất ở chồng mình chính là tính cách điềm đạm, ít nói nhưng tình cảm và sự hết lòng chăm lo cho vợ con của chồng. Hai vợ chồng chị sống với nhau rất tình cảm nhưng chân thành và không hề màu mè.

Sự đồng điệu về tâm hồn đã khiến họ gắn bó suốt mấy chục năm trời, cho đến khi Giáo sư – Tiến sĩ âm nhạc Bích Ngọc ra đi vì bạo bệnh cách đây hơn 10 năm. Đến giờ nhắc đến chồng mình, nhớ đến những kỉ niệm về chồng, nhớ đến sự quan tâm của người chồng quá cố, chị vẫn rơi nước mắt.

Sự ra đi của Bích Ngọc đã để lại trong lòng Trà Giang một nỗi trống vắng không thể bù đắp được. Ngay trước lúc mất, trên giường bệnh, Bích Ngọc vẫn nắm tay Trà Giang và nói: “Anh còn làm được gì cho em và con thì anh sẽ làm”. Cho đến tận phút cuối cùng sống cạnh nhau, chị vẫn luôn cảm động về tình yêu mà chị nhận được từ người chồng tuyệt vời của mình.

Những ngày sau khi chồng mất, Trà Giang thường đi đi lại lại trong căn nhà quen thuộc và đầy ắp kỉ niệm của mình. Có những lúc chị cảm thấy tưởng như không thể lấy lại thăng bằng. Khi chồng còn sống, chị đi tập thể dục buổi sáng hay đi bách bộ buổi chiều cũng đều có chồng bên cạnh sóng đôi.
Chị nấu cơm hay ăn cơm cũng có chồng bên cạnh. Chị dọn dẹp nhà cửa cũng có chồng giúp đỡ. Khi anh mất, chị nhận ra chị chỉ còn một mình, cô đơn, bơ vơ. Và nếu lúc đó không có hội họa làm bầu bạn, chị khó lòng mà có thể “sống tiếp” và vượt qua nỗi đau lớn nhất của đời mình.

Con gái Bích Trà – kết quả của tình yêu giữa Trà Giang và Bích Ngọc đã trở thành một nghệ sĩ piano nổi tiếng, là niềm tự hào vô cùng của chị. Bích Trà cũng là “nhân vật” quen thuộc trong các tác phẩm hội họa của Trà Giang, là tình yêu và niềm an ủi của Trà Giang sau khi chồng chị qua đời.

Giờ chị không còn xuất hiện nhiều trước công chúng mà ẩn mình trong căn nhà của mình giữa Sài Gòn rộng lớn, dành thời gian cho hội họa và cho những nỗi nhớ thương của riêng mình. Trong khoảng không gian riêng của mình, chị tìm được sự bình yên cho tâm hồn, sau những nỗi đau đã qua…

(Theo: http://phunutoday.vn/blognguoinoitieng/201107/NSNd-Tra-Giang-chi-biet-yeu-co-moi-mot-lan-2078877/)


NSND Trà Giang thời trẻ

NSND Trà Giang thời trẻ



Với giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc Liên hoan phim quốc tế Mátxcơva năm 1973 và mới đây là giải thưởng "Vinh danh trọn đời" do Hội điện ảnh Việt Nam trao tặng trong Lễ trao giải Cánh diều vàng 2007 cùng nhiều phần thưởng cao quý khác đã khẳng định sự cống hiến của Trà Giang cho nền điện ảnh nước nhà.

Ngày còn học violon ở Nhạc Viện Tchaikovxky, tình cờ đọc báo và xem bộ phim "Chị Tư Hậu" do Trà Giang đóng vai chính, dự Liên hoan phim Quốc tế tại Mátxcơva năm 1963 (đoạt giải Bạc), chàng sinh viên Bích Ngọc liền nhận ngay ra người quen.

Vai diễn của "người quen" ấy đã để lại trong anh nhiều cảm xúc và cái tên Trà Giang đã ghi dấu ấn trong anh kể từ ngày đó. Năm 1963, trong dịp về nước nghỉ hè, trong lòng anh có ý định tìm gặp diễn viên đóng trong phim từng làm mê mẩn biết bao khán giả đó nhưng chưa gặp được vì Trà lúc đó vẫn đang ở Mátxcơva.

Năm 1964 anh lại về nước, "không hẹn mà gặp" được Trà Giang ở cổng số 5 Trần Phú khi chị đang đi thăm một người bạn tên là Kim Thanh, còn anh đi thăm một người bạn tên là Phan Phúc.

Trà Giang cũng đã nhận ngay ra người quen, cất tiếng gọi: "Anh Ngọc ơi!" - "Thật xúc động biết bao! Một người mà bấy lâu nay tôi mong gặp... Vậy mà... Thật vô tình...!" - Sau này NSND Bích Ngọc kể lại.

Vậy là chàng nghệ sỹ trẻ chính thức thầm yêu trộm nhớ "người quen" từ ngày đó. NSND Trà Giang bồi hồi nhớ lại những cảm xúc đầu tiên, "anh ấy" không xa lạ gì, chính là chàng diễn viên múa Bích Ngọc năm xưa ở đoàn Văn công liên khu 5, nơi ba của chị - NSƯT Trần Văn Khánh làm đoàn trưởng.

Và họ thư từ cho nhau thường xuyên giữa Hà Nội - Mátxcơva. Bắt đầu là lá thư của Trà Giang gửi sang thăm hỏi Bích Ngọc khi anh bị thương do bất cẩn trong cuộc biểu tình chống Mỹ tại Mátxcơva nhân sự kiện "Vịnh Bắc Bộ" (5/8/1964).

Qua những lần thư đi thư lại đã dần dần hình thành tình cảm trong lòng họ, dệt nên nỗi nhớ nhung khi hai tâm hồn nghệ sỹ cùng yêu nghệ thuật cảm mến nhau về tài năng, tính cách...

NSND Trà Giang trong phim Chị Tư Hậu
... và trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm

Năm 1966, tốt nghiệp Nhạc viện Tchaikovsky, Bích Ngọc được giữ lại làm tiếp chương trình nghiên cứu sinh nhưng đất nước đang có chiến tranh nên anh xin về nước công tác tại Nhạc viện Hà Nội.

Tìm gặp người yêu tại Khu tập thể Điện ảnh - 62 Hoàng Hoa Thám khi nàng đang vừa nằm gặm bánh mỳ khô vừa ôn thi hết lớp 10, chàng nghệ sỹ trẻ thốt lên: "Diễn viên nổi tiếng gì mà khổ thế?" - trong lòng anh chợt dâng lên một niềm xót xa, thương cảm... Rồi họ đi chơi với nhau và tình yêu đến với họ một cách tự nhiên.

Họ yêu nhau được một năm thì chàng trai Bích Ngọc có ý định đi học tiếp 3 năm nghiên cứu sinh. Trà Giang dự định chờ người yêu đi học về rồi mới cưới. Anh thì thầm bên tai người yêu: "Em ạ, bạn bè bảo cưới vợ phải cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ gièm pha". Vậy là Trà Giang khẽ gật đầu ưng thuận.

Tháng 7/1967 họ cưới nhau, một đám cưới khá giản dị đến mức gần như chỉ là đăng ký thôi. Điều này làm nhiều người hết sức ngỡ ngàng. Ai cũng nghĩ, Trà Giang là diễn viên điện ảnh nổi tiếng thì phải làm một đám cưới thật linh đình, chính bản thân mẹ của chị cũng nghĩ như vậy.

Nhưng hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ đang có chiến tranh, ba của Trà Giang đang ở chiến trường, mẹ đang nuôi ba em nhỏ, trên Trà Giang còn có một người anh. Mẹ làm hai bữa cơm. Một bữa ở Hộ Liên hiệp Văn học nghệ thuật - 51 Trần Hưng Đạo do anh Bảo Định Giang lúc đó trong Ban điều hành Hội và là người trực tiếp phụ trách văn nghệ miền Nam đứng lên chủ trì, thay mặt cho nhà gái.

Nhà trai chỉ có anh chị của anh Bích Ngọc đại diện. Hôm đó Trà Giang mặc quần lụa đen, áo sơ mi màu hồng giản dị. Buổi tiệc nhỏ được tổ chức trong hội trường nhỏ có chút bánh kẹo, không có điện, phải thắp đèn măng sông với dự hiện diện của vài người bạn cô dâu.

Sau đó, mẹ cô dâu làm bữa cơm mời nhà trai và bạn bè của nhà trai. Đang bữa cơm, máy bay Mỹ ném bom ở Cầu Diễn, mọi người phải chui xuống hầm...

Cưới nhau được hai tháng, Bích Ngọc trở lại Nhạc viện Tchaikovsky tiếp tục làm nghiên cứu sinh và Trà Giang lại vào vai diễn trong "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm".



Vợ chồng NSND Trà Giang



Nghỉ hè, Bích Ngọc về nước đúng lúc Trà Giang đang đi thực tế tại Vĩnh Linh, ở cùng địa đạo với du kích dân quân cả hai miền và quay những cảnh toàn cảnh vùng giới tuyến. Anh theo xe của đoàn làm phim vào Vĩnh Linh gặp vợ đúng lúc xe khách của đoàn đang chở mọi người tiến ra phía Bắc.

Vợ chồng được gặp nhau ở Quảng Bình mừng vui khôn xiết. Phim "Vĩ Tuyến 17 ngày và đêm" đã ghi dấu son đậm nét trong cuộc đời diễn viên của Trà Giang. Bộ phim quay liền trong hai năm mới xong. Những lúc rỗi, anh đều dành hết thời gian cho chị, ở bên cạnh động viên, chăm sóc chị. Anh chị thoả thuận với nhau khi kết thúc phim, họ sẽ có con.



NSND Trà Giang nhận giải thưởng "Vinh danh trọn đời" do Hội điện ảnh Việt Nam trao tặng trong Lễ trao giải Cánh diều vàng 2007 (Ảnh: Khoa Phạm)



Bích Trà - cô con gái duy nhất là kết quả của tình yêu của vợ chồng Trà Giang chào đời tháng 3/1973 - hai tháng sau Hiệp định Pari được ký kết. Khi Bích Trà lên 4, sau bao năm dành dụm, họ mua được cho con một chiếc đàn dương cầm.

Những ngày đầu, Bích Trà cũng chưa say mê âm nhạc lắm, dần dần dưới sự hướng dẫn của người cha, cô bé cũng quen dần với cây đàn và trở nên yêu thích rồi học Nhạc viện Hà Nội. Khi xem Bích Trà chơi đàn, NSND Đặng Thái Sơn thấy cô bé thực sự có tài năng, anh khuyên gia đình nên cho Trà sang Nga học để tiếp tục phát triển tài năng.

NSND Trà Giang và con gái - nghệ sĩ piano Bích Trà

Năm 1987, Bích Trà thi đậu vào khoa piano Nhạc viện Tchaikovsky, đến 1992, cô tốt nghiệp bằng đỏ hệ trung cấp và học tiếp hệ đại học tại đây. Sau đó Bích Trà sang Anh tiếp tục rèn luyện kỹ năng tại Nhạc viện Hoàng gia Anh và hoàn thiện một văn bằng thạc sĩ nữa. Hiện tại Bích Trà là nghệ sĩ dương cầm chủ yếu sống và biểu diễn tại Anh.

Gia đình có ba người. Đã 9 năm nay sau khi NSND Bích Ngọc ra đi vì bạo bệnh chỉ còn hai mẹ con, con gái lại ở quá xa mẹ nên Trà Giang không thể không đau buồn - một nỗi buồn đau sâu thẳm.

Giọng chị nghẹn lại, hai hàng nước mắt trào ra khi nhớ về anh, nhớ về những kỷ niệm và sự quan tâm chăm sóc hết lòng của anh vì vợ con. Mọi người vẫn bảo, Trà Giang là người hạnh phúc vẹn toàn, chị được cả gia đình, cả sự nghiệp và con gái...

Vậy mà sự ra đi đột ngột của anh khiến chị cảm thấy tất cả những gì chị có không thể nào đánh đổi bằng nỗi đau đớn và mất mát quá lớn này. Anh mất được ít ngày, trong mơ chị vẫn cảm nhận rõ sự quan tâm của anh, anh nằm trên giường bệnh, cầm tay và nói với chị: "Anh còn làm được gì cho em và con thì anh sẽ làm!".

Đến giờ, Trà Giang vẫn luôn luôn nghĩ mình là người phụ nữ may mắn và thầm biết ơn chồng - một người điềm đạm, ít nói, sống giàu tình cảm, hết lòng chăm lo cho vợ con... Những điều đó, chỉ có những người thân mới thực sự cảm nhận hết được.

Trà Giang cho rằng, cái níu giữ tình cảm bền chặt giữa vợ chồng chị, tạo nên một tình yêu vĩnh cửu đó là sự chân thành của hai tâm hồn đồng điệu dành cho nhau, sống không màu mè, kiểu cách. Chẳng vậy mà khi Bích Trà mới đi học ở nước ngoài năm thứ nhất, còn bé tí đã viết thư về "cảm ơn ba mẹ đã truyền cho con nhân cách".

Đã lâu rồi, kể từ ngày người có ý nghĩa to lớn nhất trong cuộc đời Trà Giang không còn nữa, chị tìm đến với hội hoạ như là cách để giải toả bớt đi nỗi buồn, nỗi cô đơn trống trải trong lòng. Mỗi lần tìm được gam màu chuyển tải cảm xúc là một nỗi niềm vui nho nhỏ khó cắt nghĩa được của chị.

Giờ đây, chị tìm sự yên bình trong mỗi bức tranh và niềm vui bên đại gia đình của chị, nơi có gia đình em gái, ba mẹ - hai cụ tuổi đã cao nhưng vẫn rất đẹp lão, minh mẫn và cả con gái Bích Trà - niềm tự hào của chị nữa...

(Theo: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=50287)











Hỏi đáp, bình luận, trả bài:
Mình muốn xin gặp Nghệ sĩ phải liên lạc bằng cách nào? cma 1o7n
hơn 1 tháng trước - Thích (15) - Trả lời
bạn đi lên phim trường sẽ được gặp anh ấy thôi mà
*địa chỉ email của bạn được bảo mật

Hot nhất
Top xink
Bộ sưu tập
Chợ xink
Thanh lý